Phát triển kinh tế biển xanh gắn với bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam: Thực trạng, vấn đề đặt ra và kiến nghị hoàn thiện

Kinh tế tài chính

Phát triển kinh tế biển xanh gắn với bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam: Thực trạng, vấn đề đặt ra và kiến nghị hoàn thiện

    Việt Nam là quốc gia biển với lợi thế to lớn về vị trí địa kinh tế, tài nguyên biển, hệ sinh thái ven bờ, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế biển xanh. Tuy nhiên, quá trình khai thác và mở rộng các ngành kinh tế biển thời gian qua cũng làm gia tăng sức ép lên môi trường.

     

    Bài viết phân tích cơ sở lý luận về kinh tế biển xanh, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam, nhận diện các điểm nghẽn chủ yếu và đề xuất hệ thống kiến nghị nhằm hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình quản trị, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, muốn kinh tế biển thực sự trở thành động lực phát triển quốc gia, Việt Nam cần chuyển mạnh từ tư duy khai thác sang tư duy quản trị hệ sinh thái, coi chất lượng môi trường biển là một dạng vốn tự nhiên chiến lược trong dài hạn.

     

    NGUYEN VAN KHANH

     

    TS Nguyễn Văn Khanh phát biểu tại Hội thảo Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày 5/6/2026 tại Đại học Hoa Sen

     

    Trong bối cảnh cạnh tranh phát triển giữa các quốc gia ngày càng gắn chặt với tài nguyên, không gian biển và tiêu chuẩn môi trường, kinh tế biển xanh nổi lên như một định hướng mang tính chiến lược của thế kỷ XXI. Với trên 3.260 km bờ biển, hàng nghìn đảo và quần đảo, Việt Nam sở hữu tiềm năng to lớn để phát triển các ngành kinh tế biển như du lịch, thủy sản, hàng hải, cảng biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi và dịch vụ logistics biển…

     

    Tuy nhiên, tiềm năng đó chỉ có thể chuyển hóa thành lợi ích dài hạn nếu quá trình khai thác đi đôi với bảo vệ môi trường và phục hồi hệ sinh thái. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy sự gia tăng hoạt động kinh tế ven biển, đô thị hóa nhanh, nuôi biển mật độ cao, chất thải từ đất liền và biến đổi khí hậu đã gây sức ép đáng kể lên môi trường biển Việt Nam. Nếu không xử lý kịp thời, những tổn thất sinh thái sẽ quay trở lại làm suy giảm năng lực cạnh tranh của chính nền kinh tế biển.

     

    Từ yêu cầu đó, bài viết đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu trung tâm. Một là, kinh tế biển xanh cần được hiểu như thế nào trong bối cảnh phát triển của Việt Nam; Hai là, thực trạng phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường biển hiện nay đang bộc lộ những vấn đề gì; Ba là, cần những giải pháp và kiến nghị nào để tháo gỡ các điểm nghẽn còn tồn tại. Trên cơ sở đó, bài viết hướng tới mục tiêu góp phần làm rõ quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế biển và bảo vệ môi trường biển như một chỉnh thể thống nhất của phát triển bền vững.

     

    Cơ sở lý luận

     

    Diện tích biển của Việt Nam chiếm khoảng 29% diện tích biển Đông (gần 1 triệu km2), rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền. Biển Đông chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên, đặc biệt là dầu khí. Ở Việt Nam, nguồn dầu khí đã thăm dò, khảo sát có trữ lượng khoảng 3 - 4 triệu tấn dầu quy đổi, cùng với nguồn tài nguyên du lịch ven biển đảo phong phú, nuôi trồng, đánh bắt hải sản, các ngành kinh tế biển mới...

     

    Khái niệm kinh tế biển xanh được đặt trên nền tảng của phát triển bền vững, quản trị dựa trên hệ sinh thái và lý thuyết vốn tự nhiên biển. Theo cách tiếp cận này, biển không chỉ là không gian khai thác tài nguyên mà còn là một hệ sinh thái tổng hợp, nơi các yếu tố môi trường, sinh kế cộng đồng và hoạt động kinh tế có quan hệ tương tác chặt chẽ.

     

    Lý thuyết phát triển bền vững nhấn mạnh yêu cầu cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Trong lĩnh vực biển, điều đó có nghĩa là tăng trưởng của thủy sản, du lịch hay hàng hải không thể chỉ đánh giá bằng doanh thu hay giá trị gia tăng, mà phải xem xét khả năng duy trì năng lực tái tạo của hệ sinh thái biển.

     

    Tiếp đó, lý thuyết quản trị dựa trên hệ sinh thái cho thấy quản lý biển theo ngành riêng lẻ không còn phù hợp. Một sự cố ô nhiễm ở khu nuôi trồng có thể ảnh hưởng đến du lịch; suy giảm san hô có thể làm giảm nguồn lợi thủy sản; chất lượng nước biển thấp có thể làm mất lợi thế cạnh tranh của cả vùng ven bờ. Vì vậy, quản trị biển hiện đại phải dựa trên cách tiếp cận tổng hợp, liên ngành và liên vùng.

     

    Ngoài ra, lý thuyết vốn tự nhiên biển khẳng định các hệ sinh thái như rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô và nguồn lợi thủy sản là những “tài sản” có khả năng tạo ra giá trị kinh tế lâu dài. Khi vốn tự nhiên này bị suy giảm, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn sẽ phải trả giá bằng tổn thất dài hạn về sinh kế, khả năng chống chịu và năng lực cạnh tranh quốc gia.

     

    Thực trạng phát triển

     

    Thực tiễn phát triển kinh tế biển Việt Nam trong những năm qua cho thấy khu vực biển đã và đang đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với tăng trưởng quốc gia. Các ngành như vận tải biển, dịch vụ cảng, du lịch biển đảo, nuôi trồng thủy sản, khai thác hải sản và một số lĩnh vực công nghiệp ven biển đã tạo ra giá trị kinh tế đáng kể, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động và góp phần bảo đảm an ninh kinh tế - quốc phòng.

     

    Một số địa phương đã hình thành mô hình phát triển gắn với bảo vệ môi trường khá tích cực. Quảng Ninh là ví dụ nổi bật khi triển khai thay thế phao xốp bằng vật liệu nổi HDPE, xử lý cơ sở nuôi biển trái phép và phát động chương trình “Vịnh Hạ Long không rác thải nhựa”. Cồn Cỏ cũng là điển hình về bảo tồn biển đảo, với các hoạt động phục hồi san hô, trồng rừng ngập mặn, tái tạo nguồn lợi thủy sản và ứng dụng công nghệ giám sát môi trường biển.

     

    KINH TE BIEN

     

    Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, tập trung phát triển bền vững kinh tế biển, gắn với bảo vệ hệ sinh thái biển (Nguồn ảnh: Internet)

     

    Tuy nhiên, bức tranh chung vẫn còn nhiều bất cập. Ô nhiễm rác thải nhựa và chất thải từ đất liền tiếp tục là vấn đề nghiêm trọng tại nhiều vùng ven biển. Rác sinh hoạt, chất thải công nghiệp và nông nghiệp theo hệ thống sông ngòi đổ ra biển đã làm suy giảm chất lượng nước, ảnh hưởng tới hệ sinh vật và làm xấu hình ảnh du lịch biển. Đây là vấn đề mang tính hệ thống, không thể xử lý bằng các biện pháp cục bộ ngắn hạn.

     

    Bên cạnh đó, hệ sinh thái biển đang có dấu hiệu suy thoái. Rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn bị suy giảm do khai thác quá mức, ô nhiễm, phát triển hạ tầng ven bờ và tác động của biến đổi khí hậu. Khi các hệ sinh thái này mất đi, khả năng phòng hộ tự nhiên của vùng ven biển cũng suy yếu, dẫn tới tăng rủi ro thiên tai, xói lở bờ biển và giảm khả năng hấp thụ carbon.

     

    Một vấn đề khác là hoạt động nuôi biển phát triển nhanh nhưng còn thiếu kiểm soát đồng bộ về quy hoạch, công nghệ và xử lý chất thải. Ở một số địa phương, tình trạng sử dụng vật liệu nổi kém bền vững, xả thải từ lồng bè và thiếu cơ chế quản lý chất lượng nước đã tạo sức ép trực tiếp lên môi trường biển. Điều này cho thấy phát triển nuôi biển nếu không đổi mới công nghệ sẽ dễ chuyển từ “nguồn lực phát triển” thành “nguồn gây rủi ro môi trường”.

     

    Vấn đề đặt ra

     

    Từ thực trạng nêu trên, có thể nhận diện một số vấn đề cốt lõi đang cản trở quá trình phát triển kinh tế biển xanh ở Việt Nam.

     

    Trước hết là sự phân tán trong quản lý nhà nước. Quản lý biển hiện vẫn còn dấu ấn tư duy ngành dọc, thiếu cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa thủy sản, du lịch, môi trường, giao thông, xây dựng và chính quyền địa phương. Hệ quả là không gian biển bị khai thác chồng lấn, chính sách thiếu đồng bộ và trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng.

     

    Thứ hai là chất lượng thực thi pháp luật còn hạn chế. Dù hệ thống pháp luật về tài nguyên và môi trường biển đã được hoàn thiện từng bước, việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm ở nhiều nơi vẫn chưa đủ mạnh để tạo sức răn đe. Điều này làm giảm hiệu lực của chính sách và khiến nhiều quy định tốt trên giấy khó đi vào cuộc sống.

     

    Thứ ba là mô hình tăng trưởng vẫn còn thiên về khai thác hơn phục hồi. Nhiều địa phương ưu tiên mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn, trong khi đầu tư cho phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và kinh tế tuần hoàn còn hạn chế. Điều đó dẫn tới mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và an toàn sinh thái dài hạn.

     

    Thứ tư là khoa học công nghệ và dữ liệu biển chưa được khai thác tương xứng. Giám sát môi trường biển, cảnh báo ô nhiễm, theo dõi chất lượng nước và quản lý nguồn lợi vẫn còn thiếu các nền tảng dữ liệu thời gian thực, thiếu liên thông và chưa được số hóa đồng bộ. Đây là rào cản lớn đối với quản trị biển hiện đại.

     

    Thứ năm là sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp chưa thật sự sâu. Trong nhiều trường hợp, người dân ven biển vẫn là đối tượng chịu tác động hơn là chủ thể của quá trình quản trị. Doanh nghiệp chưa gắn mạnh trách nhiệm môi trường với chiến lược phát triển dài hạn, trong khi nhận thức xã hội về giá trị của vốn tự nhiên biển còn chưa đồng đều.

     

    KINH TE BIEN2

     

    Kinh tế biển, ven biển tăng trưởng nhanh, đóng góp lớn cho phát triển kinh tế- xã hội. Ảnh minh họa 

    Kiến nghị hoàn thiện

     

    Để giải quyết những vấn đề còn vướng mắc, cần triển khai đồng bộ một hệ thống kiến nghị cả ở cấp thể chế, quản trị, công nghệ và xã hội.

     

    Trước hết, cần hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế phối hợp liên ngành theo hướng quản lý tổng hợp vùng bờ và quản trị dựa trên hệ sinh thái. Nhà nước cần xác lập rõ trách nhiệm giữa các bộ, ngành và địa phương, tránh tình trạng chồng chéo hoặc bỏ trống quản lý. Cùng với đó, cần xây dựng cơ chế điều phối liên vùng để xử lý các vấn đề xuyên biên giới hành chính như ô nhiễm nước biển, rác thải nhựa và suy thoái hệ sinh thái.

     

    Thứ hai, cần nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật môi trường biển thông qua tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử phạt đủ sức răn đe. Các hành vi xả thải trái phép, lấn biển sai quy hoạch, khai thác hủy diệt hoặc sử dụng vật liệu gây ô nhiễm phải được xử lý nghiêm minh. Chỉ khi chi phí vi phạm cao hơn lợi ích thu được thì pháp luật mới có tác dụng điều chỉnh thực sự.

    Thứ ba, cần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn biển. Điều này bao gồm giảm nhựa dùng một lần trong du lịch và dịch vụ ven biển, tái sử dụng vật liệu trong nuôi biển, thu gom và tái chế rác thải nhựa, xây dựng chuỗi giá trị thủy sản bền vững và khuyến khích doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn sản xuất xanh. Kinh tế tuần hoàn không chỉ là giải pháp môi trường mà còn là hướng đi để nâng cao giá trị gia tăng của kinh tế biển.

     

    Thứ tư, cần tăng đầu tư cho khoa học công nghệ và dữ liệu số về biển. Việt Nam cần mở rộng ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, GIS, viễn thám, cảm biến môi trường và hệ thống quan trắc thời gian thực để giám sát chất lượng biển, theo dõi hệ sinh thái và hỗ trợ ra quyết định chính sách. Việc số hóa quản trị biển sẽ giúp giảm độ trễ thông tin, tăng khả năng dự báo và nâng cao hiệu quả quản lý.

     

    Thứ năm, cần phát huy vai trò của cộng đồng và doanh nghiệp. Cộng đồng dân cư ven biển phải được coi là chủ thể của bảo vệ môi trường, không chỉ là đối tượng tuyên truyền. Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy tuân thủ tối thiểu sang tư duy trách nhiệm xã hội và trách nhiệm sinh thái, gắn lợi ích kinh doanh với bảo tồn tài nguyên dài hạn.

     

    Thứ sáu, cần tăng cường đầu tư cho phục hồi hệ sinh thái biển. Bảo tồn rạn san hô, phục hồi rừng ngập mặn, tái tạo cỏ biển và bảo vệ vùng sinh sản của thủy sản phải trở thành ưu tiên trong chính sách biển. Đây là khoản đầu tư chiến lược nhằm củng cố “vốn tự nhiên” của quốc gia, thay vì chỉ là hoạt động bảo vệ mang tính hình thức.

     

    Các ngành kinh tế biển mới như điện mặt trời trên biển, điện sóng biển, khai thác tài nguyên đa dạng sinh học biển (dược liệu biển, nuôi trồng và chế biến rong, tảo, cỏ biển) đều là những ngành sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc sử dụng tài nguyên tái tạo. Các ngành kinh tế biển mới có giá trị hàm lượng khoa học, kĩ thuật cao hướng tới tăng trưởng bền vững được đánh giá là điểm đột phá của Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam hướng tới phát triển kinh tế biển xanh.

     

    Kết luận

     

    Phát triển kinh tế biển xanh ở Việt Nam không chỉ là yêu cầu kinh tế mà còn là đòi hỏi chiến lược đối với an ninh sinh thái và năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn. Thực tiễn cho thấy nếu tiếp tục khai thác biển theo tư duy tăng trưởng ngắn hạn, chi phí môi trường sẽ ngày càng lớn và làm suy giảm nền tảng phát triển bền vững.

     

    Ngược lại, nếu chuyển mạnh sang mô hình quản trị dựa trên hệ sinh thái, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tăng cường thực thi pháp luật và đầu tư cho công nghệ, Việt Nam có thể biến môi trường biển thành lợi thế chiến lược. Những mô hình tích cực tại Quảng Ninh, Khánh Hòa và Cồn Cỏ cho thấy khi chính sách đúng, công nghệ phù hợp và cộng đồng cùng tham gia, phục hồi môi trường biển là hoàn toàn khả thi.

     

    Từ góc nhìn học thuật và thực tiễn quản trị, kinh tế biển xanh cần được hiểu là mô hình phát triển trong đó tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ hệ sinh thái được đặt trong một cấu trúc thống nhất. Đây là con đường phù hợp để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và phát triển bền vững trong thế kỷ XXI.

     

    Tài liệu tham khảo

     

    Ban Chấp hành Trung ương. Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

    Brundtland Commission. Our Common Future. 1987.OECD. Các báo cáo về Blue Economy và quản trị biển bền vững.

    United Nations Environment Programme (UNEP). Các tài liệu về bảo vệ môi trường biển và rác thải nhựa đại dương.

    World Bank. Các nghiên cứu về kinh tế biển xanh và vốn tự nhiên biển.

    TS. Nguyễn Văn Khanh

     

     

     

    Có thể bạn quan tâm

    Thái Lan cử đại diện sang Việt Nam xin lỗi vụ nhầm cờ

    29/10/2025 12:16 PM
    Phó chủ tịch Adisak Benjasiriwan cùng đoàn đại diện LĐBĐ Thái Lan sẽ đến Hà Nội chiều nay, để xin lỗi vì dùng cờ Trung Quốc thay Việt Nam tại lễ bốc thăm futsal U19 Đông Nam Á 2025.

    10 thói quen hàng ngày âm thầm tàn phá não bộ

    20/10/2025 02:42 PM
    Những thói quen như thiếu ngủ, ngồi lâu, ăn uống kém, căng thẳng mãn tính... gây hại não bộ, cần thay đổi lối sống để bảo vệ sức khỏe nhận thức.

    5 thực phẩm ở siêu thị dù bắt mắt tới đâu cũng nên cân nhắc khi mua

    11/10/2025 10:35 AM
    Rất nhiều thực phẩm ở siêu thị có hình thức rất cuốn hút, giá cả có lúc rất rẻ nhưng lại ẩn chứa nguy cơ với sức khỏe, bạn nên suy nghĩ trước khi quyết định mua.

    Hít đất bao nhiêu cái được xem là 'chuẩn đàn ông'?

    02/10/2025 10:16 AM
    Hít đất (chống đẩy) không chỉ là bài tập rất phổ biến mà còn mang ý nghĩa như một chỉ số đơn giản để đánh giá trạng thái thể chất - đặc biệt là đối với nam giới.

    Phó hiệu trưởng không cho đưa học sinh bị ngộ độc đi bệnh viện?

    27/09/2025 09:30 PM
    Liên quan vụ hơn 40 học sinh nhập viện vì ngộ độc tại Quảng Trị, xuất hiện một đoạn ghi âm kèm clip có lời được cho là của bà Đỗ Thị Hồng Huế